Theo đó, từ ngày 01/7/2026, dịch vụ vận chuyển hành khách hàng không nội địa thường lệ hạng phổthông cơ bản bán trong lãnh thổ Việt Nam được định giá theo nhóm đường bayvới các cự ly sau:
Nhóm I. Dưới 500km (nhóm đường bay phát triển kinh tế - xã hội và nhóm đường bay khác);
Nhóm II. Từ 500km đến dưới 850km;
Nhóm III. Từ 850km đến dưới 1.000km;
Nhóm IV. Từ 1.000km đến dưới 1.280km;
Nhóm V. Từ 1.280km trở lên.

Mức giá tối đa dịch vụ quy định đã bao gồm tổng số tiền hành khách chi trả cho một vé máy bay, không bao gồm các khoản thu sau:
Thuế giá trị gia tăng;
Phí đảm bảo an ninh hành khách, hành lý;
Giá dịch vụ phục vụ hành khách tại cảng hàng không;
Giá dịch vụ tăng thêm.
Ngoài ra, Thông tư cũng phân định các nhóm cảng hàng không gồm: Nhóm A là nhóm cảng hàng không tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (cảng hàng không Côn Đảo, Điện Biên, Cà Mau, Rạch Giá); Nhóm B là các cảng hàng không còn lại.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2026. Bãi bỏ Thông tư số 44/2024/TT-BGTVT ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cơ chế, chính sách quản lý giá dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa và giá dịch vụ chuyên ngành hàng không./.
Bộ Xây dựng tổ chức lấy ý kiến về dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng.
Cục Hàng không Việt Nam tổ chức lấy ý kiến Dự thảo tu chỉnh Hướng dẫn đánh giá và báo cáo tình trạng mặt đường cất hạ cánh (CHC) tại cảng hàng không và bãi cất, hạ cánh.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 43/2026/NQ-CP ngày 30/9/2026 về việc kéo dài thời hạn áp dụng đến hết năm 2026 đối với thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường (BVMT), thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay (Nghị quyết).