Chiến lược phát triển Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045

Thứ Ba, 07/04/2026 - 10:59 GMT+7

Hội đồng thành viên Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam vừa ban hành Quyết định số 97/QĐ-HĐTV phê duyệt “Chiến lược phát triển Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Tăng tốc chuyển đổi số, kiến tạo hệ sinh thái quản lý bay hiện đại

Hội đồng thành viên Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam vừa ban hành Quyết định số 97/QĐ-HĐTV phê duyệt “Chiến lược phát triển Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây là định hướng chiến lược mang tính nền tảng, xác lập con đường phát triển dài hạn của Tổng công ty trong bối cảnh ngành hàng không toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình quản lý bay dựa trên dữ liệu và công nghệ số.


Chiến lược khẳng định rõ quan điểm phát triển với bốn trụ cột xuyên suốt: lấy an toàn làm giá trị cốt lõi và điều kiện tiên quyết; lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực đột phá; lấy nguồn nhân lực là nhân tố then chốt, con người làm trung tâm; và bảo đảm phát triển đồng bộ, thống nhất gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

 
(Kíp trực KSKL ATCC Hà Nội).

Trong đó, chuyển đổi số được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực điều hành bay, tối ưu hóa khai thác và từng bước hình thành mô hình “bầu trời thông minh”. Tổng công ty hướng tới làm chủ các công nghệ không lưu thế hệ mới như quản lý bay theo quỹ đạo (TBO), hệ thống quản lý thông tin diện rộng (SWIM), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), qua đó nâng cao hiệu quả khai thác, giảm thiểu phát thải và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.

 

Về mục tiêu, đến năm 2030, Tổng công ty phấn đấu trở thành nhà cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay số hàng đầu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đáp ứng các yêu cầu của ICAO về Kế hoạch không lưu toàn cầu và các chương trình hiện đại hóa ATM. Đồng thời, nâng cao mức độ trưởng thành theo tiêu chuẩn xuất sắc (SoE) của CANSO và từng bước đóng vai trò dẫn dắt trong chia sẻ dữ liệu không lưu khu vực thông qua hệ thống


SWIM, triển khai TBO trên các luồng bay trục chính

Với tầm nhìn đến năm 2045, Tổng công ty định hướng trở thành nhà cung cấp dịch vụ không lưu hàng đầu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tiên phong ứng dụng công nghệ số, bảo đảm an toàn ở mức cao nhất, tối ưu hiệu quả khai thác và đóng góp tích cực vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển hàng không của khu vực.


Triển khai 10 chương trình, đề án trọng điểm - trụ cột của chuyển đổi

Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược, Tổng công ty xác định 10 chương trình, đề án trọng điểm đóng vai trò “cầu nối” giữa định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm giai đoạn 2026-2030.

(Đài Kiểm soát không lưu Tân Sơn Nhất).

Trước hết, Chương trình SWIM và trao đổi dữ liệu chuyến bay (FF-ICE) được xác định là nền tảng hạ tầng số cốt lõi, cho phép kết nối, chia sẻ dữ liệu thời gian thực giữa các hệ thống và đối tác, hình thành “trục dữ liệu không lưu” theo chuẩn quốc tế. Đây là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi từ mô hình vận hành phân tán sang mô hình quản lý dựa trên dữ liệu.


Chương trình phối hợp ra quyết định (A-CDM, AMAN/DMAN) và quản lý tàu bay đến xuyên biên giới (XMAN) tập trung tối ưu hóa chuỗi hoạt động bay từ giai đoạn đường dài đến khi hạ cánh, giúp nâng cao năng lực thông qua tại các sân bay trọng điểm, giảm thiểu ùn tắc và thời gian bay chờ.


Chương trình phân cách dựa trên thời gian (TBS/e-TBS) và phân cách cặp tàu bay (Pairwise) hướng tới ứng dụng các thuật toán tiên tiến nhằm duy trì năng lực khai thác ngay cả trong điều kiện thời tiết bất lợi, đồng thời bảo đảm tiêu chuẩn an toàn cao nhất.

Chương trình vùng trời đường bay tự do (FRA-VN) tầng cao là bước chuyển đổi quan trọng từ mô hình đường bay cố định sang quỹ đạo bay linh hoạt, giúp các hãng hàng không rút ngắn đường bay, tiết kiệm nhiên liệu, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả khai thác.


Trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, Chương trình thoại trên nền IP (VoIP-ATC) và Trung tâm điều hành mạng lưới số (Digital NOC) sẽ số hóa toàn diện hệ thống liên lạc, kết hợp với ứng dụng AI để chuyển sang mô hình bảo trì dự báo, nâng cao độ tin cậy và tính sẵn sàng của hệ thống.


Chương trình số hóa AIM và MET đặt mục tiêu chuyển đổi hoàn toàn từ mô hình cung cấp thông tin dựa trên văn bản sang dữ liệu số chuẩn hóa, tạo nguồn dữ liệu “sống” phục vụ điều hành bay thông minh và các dịch vụ giá trị gia tăng.


Đáp ứng xu thế phát triển mới, Chương trình quản lý tàu bay không người lái (UTM/FIMS) và cấp phép bay điện tử sẽ xây dựng hạ tầng quản lý vùng trời cho các phương tiện bay không người lái, tích hợp tự động hóa và hàng rào ảo, mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế hàng không.

(Kíp trực KSKL ATCC Hồ Chí Minh).

Chương trình đài kiểm soát không lưu từ xa/số (Digital/Remote Tower) đa sân bay là bước tiến trong việc tối ưu hóa nguồn lực, cho phép điều hành nhiều sân bay từ một trung tâm, giảm chi phí đầu tư hạ tầng và nâng cao hiệu quả vận hành.

 

Song song với đó, Chương trình mô phỏng, nghiên cứu phát triển (R&D) và đào tạo dựa trên năng lực (CBTA) tập trung phát triển hệ thống huấn luyện hiện đại, ứng dụng công nghệ mô phỏng VR/3D, đồng thời xây dựng đội ngũ chuyên gia làm chủ công nghệ cao.

Cuối cùng, Chương trình dịch vụ và trải nghiệm khách hàng hướng tới xây dựng hệ sinh thái dịch vụ số “một cửa”, nâng cao chất lượng phục vụ, minh bạch hóa thông tin và tăng cường trách nhiệm giải trình của Tổng công ty.


Năm nhóm giải pháp đồng bộ – nền tảng triển khai chiến lược

Bên cạnh các chương trình trọng điểm, Chiến lược đề ra năm nhóm giải pháp chủ đạo nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong triển khai:

Nhóm giải pháp về quản trị doanh nghiệp và thể chế tập trung chuyển đổi mô hình quản lý theo hướng hiện đại, áp dụng các nguyên tắc quản trị tiên tiến (OECD), tăng cường minh bạch, kiểm soát rủi ro và nâng cao trách nhiệm giải trình. Đồng thời, xây dựng cơ chế giám sát đánh giá hiệu quả hạt động dựa trên các chỉ số cốt lõi (KPIs) về an toàn, hiệu quả tài chính và năng lực thông qua. Thúc đẩy đổi mới tư duy quản trị và thế chế hóa không gian mới, từng bước hình thành hành lang pháp lý cho các lĩnh vực mới như quản lý bay tầm thấp (UTM).


Nhóm giải pháp về hiện đại hóa hệ thống quản lý bay và chuyển đổi số xác định khâu đột phá là chuyển dịch sang mô hình quản lý luồng không lưu dựa trên dữ liệu. Điều này bao gồm việc xây dựng kiến trúc hệ thống tập trung hóa dữ liệu, phát triển hạ tầng giám sát, dẫn đường và điều hành thông minh, ứng dụng AI và Big Data để dự báo, tối ưu hóa hoạt động bay và hướng tới mô hình “sân bay thông minh, bầu trời thông minh”.


Nhóm giải pháp về cơ chế tài chính và cân đối vốn đầu tư tập trung nâng cao năng lực tài chính thông qua tối ưu hóa doanh thu, quản lý chi phí hiệu quả và xây dựng cơ chế huy động vốn linh hoạt. Đồng thời, ưu tiên nguồn lực cho các dự án hiện đại hóa hạ tầng, chuyển đổi số và các giải pháp “xanh hóa bầu trời”, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ môi trường.


Nhóm giải pháp về chính sách nhân sự và đổi mới sáng tạo hướng tới xây dựng cơ chế tiền lương linh hoạt theo thị trường, thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao; chuẩn hóa đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế; phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành; đồng thời thúc đẩy hoạt động nghiên cứu – phát triển, từng bước làm chủ công nghệ và giảm phụ thuộc vào nhà thầu nước ngoài.

 
(Đài Kiểm soát không lưu Nội Bài).
 

Nhóm giải pháp về quốc phòng – an ninh và hội nhập quốc tế khẳng định vai trò của Tổng công ty trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, bảo vệ chủ quyền vùng trời, nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ tại các vùng FIR, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế, chủ động tham gia và đóng góp vào các sáng kiến khu vực và toàn cầu.


Việc phê duyệt và triển khai Chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam trong việc đổi mới mô hình phát triển, đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa toàn diện và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Với định hướng rõ ràng cùng các chương trình và giải pháp đồng bộ, Tổng công ty đang từng bước kiến tạo nền tảng vững chắc để phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành hàng không và đất nước trong giai đoạn mới./.

(vatm.vn)