Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ
Ngày 10/12/2025, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2025 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2026.
Đơn cử, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3; bổ sung khoản 4 và khoản 5 vào sau khoản 3 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về giới hạn quyền sở hữu trí tuệ như sau:
- Việc khai thác, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và phải tuân thủ quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.
- Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ; việc giới hạn quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Trường hợp một đối tượng mà có nhiều quyền sở hữu trí tuệ phát sinh hoặc được xác lập theo quy định tại Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2019 và 2025), quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau đối với đối tượng đó bị buộc chấm dứt thực hiện khi việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ phát sinh sau hoặc được xác lập sau mâu thuẫn với việc khai thác bình thường quyền sở hữu trí tuệ đã phát sinh trước hoặc được xác lập trước. Việc chấm dứt thực hiện quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2025) do Tòa án quyết định.
- Tổ chức, cá nhân được sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo, với điều kiện việc sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Đối với văn bản và dữ liệu là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan, việc sử dụng văn bản và dữ liệu theo quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2025) còn phải thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP quy định về quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính
Ngày 13/2/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 61/2026/NĐ-CP quy định về danh mục, việc quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2026.
Nghị định 61/2026/NĐ-CP quy định về:
- Viêệc quản lý, sử dụng, danh mục, đối tượng được trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không dân dụng (sau đây viết chung là trật tự, an toàn giao thông), bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống ma túy, phòng, chống tác hại của rượu, bia, khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và nuôi trồng thủy sản, tần số vô tuyến điện và việc sử dụng, bảo quản kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ.
- Quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính.
Nghị định 69/2026/NĐ -CP sửa đổi Nghị định 106/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về phòng cháy, chữa cháy
Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm được xác định như sau:
- Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 6 Nghị định 106/2025/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 69/2026/NĐ-CP) được tính từ ngày cơ quan, đơn vị có thẩm quyền ra văn bản thông báo kết quả huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ theo quy định;
- Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 Nghị định 106/2025/NĐ-CP được tính từ ngày cơ quan quản lý chuyên ngành ra văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy theo quy định;
- Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 18 Nghị định 106/2025/NĐ-CP được tính từ ngày cơ quan quản lý chuyên ngành ra văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy theo quy định hoặc chấm dứt hoạt động;
- Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại điểm a và điểm b khoản 9 Điều 20 Nghị định 106/2025/NĐ-CP đối với công trình không thuộc diện thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy được tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng để đưa vào sử dụng theo quy định…
Quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí chi trả chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang từ ngân sách nhà nước
Ngày 02/3/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 14/2026/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí của cơ quan quản lý nhà nước chi trả chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam từ nguồn ngân sách nhà nước.
Theo đó, việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về giá, pháp luật khác có liên quan và các quy định sau đây:
- Đối với chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang do các hãng hàng không của Việt Nam thực hiện: căn cứ giá thuê chuyên cơ, chuyên khoang sử dụng ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về giá, cơ quan được giao chủ trì tổ chức thực hiện kế hoạch chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam thực hiện đặt hàng hãng hàng không của Việt Nam có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Việc định giá thuê chuyên cơ, chuyên khoang sử dụng ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.
Quy trình, thủ tục đặt hàng hãng hàng không của Việt Nam thực hiện theo quy định tại Nghị định số 96/2021/NĐ-CP và pháp luật khác có liên quan.
- Đối với thuê hãng hàng không nước ngoài thực hiện chuyến bay chuyên cơ phục vụ các đối tượng được phục vụ chuyến bay chuyên cơ của Việt Nam tại nước ngoài trong trường hợp cần thiết.
Việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thuê hãng hàng không nước ngoài thực hiện chuyến bay chuyên cơ phục vụ các đối tượng được phục vụ chuyến bay chuyên cơ của Việt Nam tại nước ngoài thực hiện theo quyết định của thủ trưởng cơ quan được giao chủ trì tổ chức thực hiện kế hoạch chuyến bay chuyên cơ; hợp đồng ký kết và các chứng từ hợp pháp, hợp lệ, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.
- Cơ quan được giao kinh phí bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang của Việt Nam chịu trách nhiệm quyết toán kinh phí được giao, tổng hợp chung vào quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm của cơ quan, đơn vị theo quy định…/.